Lãi suất tiền gửi 0%: mục tiêu không thể đạt được!

Sáng 22 tháng sáu năm 2021, Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính (VAFI) có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương nêu đề xuất hạ dần lãi suất tiền gửi VND về mức 0%/năm.

Theo VAFI, mức lãi suất này hiện đã được nhiều nền kinh tế phát triển trên thế giới và cả một vài nước ASEAN áp dụng, trong khi tiền gửi VND cho kỳ hạn ngắn hạn và trung hạn đang ở mức rất cao so với các nước và dẫn đến lãi suất cho vay cũng cao hơn, trở thành bất lợi lớn cho cộng đồng doanh nghiệp cũng như đông đảo người tiêu dùng thuộc đối tượng thu nhập thấp và trung bình. Nếu lãi suất cho vay thật thấp sẽ kích thích hệ thống doanh nghiệp và thị trường chứng khoán phát triển, bảo đảm an sinh xã hội cho người thu nhập thấp.

Các chuyên gia tài chánh, kinh tế trong nước lại không đồng tình với lập luận này của VAFI, bởi theo họ, trên thế giới không có ngân hàng thương mại nào lãi suất 0%, đã có sự nhầm lẫn giữa chính sách của ngân hàng trung ương và lãi suất của ngân hàng thương mại. Hệ thống ngân hàng thương mại vốn là những tổ chức kinh doanh trong thị trường vốn, có người mua và người bán. Mà đã là mua bán thì phải có giá – ở đây là lãi suất.

Theo tôi hiểu thì từ năm 1986, khi bắt đầu đổi mới cho đến bây giờ, chưa bao giờ lãi suất tiền gửi xuống đến 0%. Tôi cũng không tin rằng đề xuất này sẽ được Chính phủ chấp nhận. – Tiến sĩ Kinh tế Lê Đăng Doanh

Tiến sĩ Kinh tế Lê Đăng Doanh không tin Chính phủ cho thực hiện đề xuất này. Ông nêu quan điểm của mình với RFA:

“Theo tôi thì trong tình hình lạm phát như hiện nay và kinh tế đang gặp những khó khăn do đại dịch cùng những vấn đề khác nữa, việc hạ lãi suất tiền gửi xuống 0% là không thích hợp. Hiện nay tỷ lệ lạm phát chính thức công bố vào khoảng 3-4 %. Nếu lãi suất xuống 0% thì người dân sẽ không có động lực để gửi tiền tiết kiệm. Lúc bấy giờ số tiền nhàn rỗi trong dân sẽ được đầu tư vào những lĩnh vực bất động sản, tiền bitcoin,…sẽ trở nên phức tạp. Cá nhân tôi thấy hiện nay điều kiện chưa thích hợp để đưa lãi suất về 0%. Nó chỉ thích hợp khi tỷ lệ lạm phát là 0%.

Theo tôi hiểu thì từ năm 1986, khi bắt đầu đổi mới cho đến bây giờ, chưa bao giờ lãi suất tiền gửi xuống đến 0%. Tôi cũng không tin rằng đề xuất này sẽ được Chính phủ chấp nhận.”

Chuyên gia tài chính – ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng đây là điều không khả thi, dễ gây nguy cơ rối loạn thị trường tài chính vì nền kinh tế Việt Nam còn quá non trẻ. Ông giải thích thêm:

“Đó là mục tiêu không thể đạt được ít nhất trong vài năm tới bởi nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế còn rất là non trẻ đang phát triển. Một điều quan trọng nữa là mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam đang ở mức rất thấp. Với mức tín nhiệm quốc gia thấp như vậy thì các nhà đầu tư cũng như những người gửi tiền trong ngân hàng không thể nào chấp nhận mức lãi suất thấp bằng 0% như vậy. Như thế làm sao có thể đẩy mức lãi suất cho vay xuống bằng 0% được.”

Đề xuất hạ lãi suất tiền gửi xuống 0%/năm của VAFI năm nay được lấy ý tưởng từ việc hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ về mức 0%/năm vào năm 2010.

Một nhân viên ngân hàng ở Hà Nội đang đếm tiền đồng Việt Nam và tiền đô la Mỹ. Reuters

Ngày bốn tháng 11 năm 2010, VAFI đã có văn bản gửi Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đề xuất quy định mức trần tiền gửi ngoại tệ không quá 1/%/năm và sau này hướng tới lãi suất 0%/năm nhằm ổn định tỷ giá, giải quyết tình trạng thiếu hụt ngoại tệ. Đến nay, lãi suất tiền gửi ngoại tệ đã về 0%/năm.

Là một người dân có tiền gửi ngân hàng từ nhiều năm. Ông Quang nói rằng, ngoại tệ và nội tệ khác nhau nhiều lắm. Ở Việt Nam thì giao dịch chính vẫn là tiền đồng. Nếu Chính phủ đồng ý với đề xuất của VAFI thì ông sẽ không gửi tiền nữa mà rút tiền về hoặc đầu tư chỗ khác. Ông nói:

“Theo tôi, ở đây nó có hàm ý liên quan đầu tư bất động sản. Có thể đó là một kiểu ném đá dò đường xem thử phản ứng của công luận như thế nào trước khi họ quyết định. Thực tế có khi mấy ông trong Hiệp hội Các nhà Đầu tư Tài chính Việt Nam (VAFI) cũng đồng thời là những doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, là sân sau của các quan chức. Phần lớn vốn đầu tư từ nguồn vay ngân hàng nên họ vẫn phải trả lãi cho nên họ vẽ ra chuyện lãi suất tiền gửi bằng 0. Lãi suất này bằng 0 thì lãi suất cho vay cũng phải giảm xuống, và như thế họ có lợi.

Trong khi đó, những người có tiền gửi ngân hàng như tụi tôi thì đâu có lợi gì nữa mà còn thêm cái rủi ro nếu ngân hàng phá sản. Chi bằng tụi tui đem mua vàng hay đem tiền về cất ở nhà yên tâm hơn.”

Trong khi đó, những người có tiền gửi ngân hàng như tụi tôi thì đâu có lợi gì nữa mà còn thêm cái rủi ro nếu ngân hàng phá sản. Chi bằng tụi tui đem mua vàng hay đem tiền về cất ở nhà yên tâm hơn. – Một người dân

Nếu tất cả mọi người dân rút tiền về thì dòng tiền sẽ từ hệ thống ngân hàng chảy sang các kênh khác như vàng, ngoại tệ, cổ phiếu, bất động sản khiến ngân hàng thiếu vốn. Ngoài ra, với tiền nhàn rỗi, người dân sẽ có xu hướng bỏ tiền vào những kênh lãi suất cao nhưng nhiều rủi ro, có thể gây những rối loạn xã hội.

Bên cạnh đó, khi ngân hàng không huy động được vốn để cho vay thì các doanh nghiệp phải tìm nguồn vốn ở các kênh khác với lãi suất vay cao. Vốn vay lãi suất cao sẽ kéo giá thành sản phẩm lên và từ đó tạo thêm áp lực lạm phát.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nêu nhận định của ông về việc này:

“Khi lãi suất tiền gửi thấp như vậy thì người ta sẽ không gửi tiền ngân hàng. Số tiền đó sẽ chạy vào những thị trường đầu tư tài sản trong đó có chứng khoán, có bất động sản. Khi số tiền đẩy vô chứng khoán, bất động sản nhiều nó sẽ tạo ra bong bóng, đẩy giá chứng khoán lên rất cao, hiện nay là 1.370 điểm rồi. Giá bất động sản của Việt Nam cũng đang cao sẽ tạo ra bong bóng. Bong bóng vỡ sẽ kéo cả nền kinh tế khủng hoảng như ở Mỹ năm 2008.

Trong khi đó các ngân hàng cần tiền để cho vay, vì khi lãi suất xuống thấp, các cá nhân hay các tổ chức kinh tế muốn vay. Từ đó dẫn đến tình trạng mất thanh khoản. Một mặt không có tiền để cho vay, một mặt nhu cầy vay rất lớn có thể đưa đến khủng hoảng cho cả nền kinh tế.”

Ngày 15 tháng chín năm 2008, Hoa Kỳ bị một vụ khủng hoảng tài chính gây chấn động toàn cầu khi tập đoàn đầu tư Lehman Brothers lập thủ tục khai báo vỡ nợ. Đây là ngân hàng được thành lập từ năm 1850, là một trong bốn ngân hàng đầu tư lớn của Mỹ, quản lý một khối tài sản trên toàn cầu trị giá hơn 600 tỷ đô la lúc bấy giờ.

Vụ sụp đổ này kéo theo hàng loạt doanh nghiệp tài chính và ngân hàng lớn như AIG, Merrill Lynch, Fannie Mae, Freddie Mac, Wachovia, Washington Mutual, … gây ra khủng hoảng tín dụng khiến kinh tế toàn cầu bị tổng suy trầm hai năm liền sau đó.

Các tin khác